Thứ bảy, 25/07/2015 - 11:00

TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TAND Tối cao ban hành bản án không có khả năng thi hành?

Dân trí

Bản án sơ thẩm số 156/2010/KDTM - ST của TAND TP Hà Nội bị kháng cáo và được Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội tuyên y án sơ thẩm. Tuy nhiên, điều bất thường là cả 2 bản án này đều không xem xét kỹ hiện trạng thực tế của các phần tài sản thế chấp. Đồng nghĩa với việc cơ quan thi hành án sẽ “kêu trời” trong quá trình thi hành án.

Theo đơn kêu cứu của ông Nguyễn Viết Khánh (SN 1963) và bà Lê Thị Kim Thư (SN 1971), cùng trú tại số 104 Phó Đức Chính, phường Trúc Bạch - Ba Đình (Hà Nội) gửi báo Dân trí cho rằng: Bản án sơ thẩm số 156/2010/KDTM- ST và Bản án phúc thẩm số 161/2012/KDTM  PT của TAND TP Hà Nội và TAND Tối cao có nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng lẫn nội dung, gây ảnh hưởng đến quyền - lợi ích hợp pháp của công dân.

Nội dung đơn kêu cứu thể hiện sự việc bắt đầu từ khi vợ chồng ông Khánh, bà Thư ký vào 02 Hợp đồng thế chấp để bảo lãnh cho khoản vay của Công ty cổ phần sản xuất, xuất nhập khẩu dịch vụ và thương mại Đại Dương (Sau đây gọi tắt là Công ty Đại Dương) đối với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á. Những tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 116 + 117d, tờ bản đồ số 22, tổ 21, cụm 3, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, GCNQSDĐ số AD 632379; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số (75+76)- 1, tờ bản đồ số 01, tổ 13, cụm 3, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (GCN QSHNƠ và QSDĐƠ) số 103070597-01.

 

TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TAND Tối cao ban hành bản án không có khả năng thi hành? - 1

 

Đơn kêu cứu gửi báo Dân trí của vợ chồng bà Lê Thị Kim Thư.

Đơn kêu cứu gửi báo Dân trí của vợ chồng bà Lê Thị Kim Thư.

Do Công ty Đại Dương đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 29/07/2010, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á đã khởi kiện Công ty Đại Dương. Ngày 13/12/2010, TAND TP Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á và Công ty Đại Dương, tuyên xử: Công ty Đại Dương thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á số tiền hơn 5,4 tỷ đồng bao gồm cả nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn. Bản án cũng tuyên: trong trường hợp Công ty Đại Dương không thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Đông Nam Á có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội phát mãi các tài sản thế chấp, trong đó có tài sản thế chấp của ông Khánh, bà Thư.

Không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm số 156/2010/KDTM - ST của TAND TP Hà Nội, ông Khánh, bà Thư đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án. Ngày 21/08/2012, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm vụ án, tuyên y án sơ thẩm.

Tuy nhiên, ông Khánh, bà Thư cho rằng hai bản án trên không đánh giá đúng đắn các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vận dụng sai quy định của pháp luật, ban hành các bản án không có khả năng thi hành. Cụ thể:

Thứ nhất, HĐXX đã không đánh giá đúng nội dung của 02 giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được công chứng số 45/2009/HĐTC và 46/2009/HĐTC ngày 16/01/2009. Theo Ông Khánh, bà Thư hai hợp đồng họ ký kết với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á là Hợp đồng bảo lãnh chứ không phải là Hợp đồng thế chấp như Toà án các cấp đã nhận định, trái với quy định tại Điều 361 BLDS 2005. Việc xác định sai bản chất của Hợp đồng bảo lãnh khiến cho Hội đồng xét xử hai cấp đã bỏ qua yếu tố vô hiệu của hai Hợp đồng này, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba là gia đình ông, bà Khánh Thư.

 

TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TAND Tối cao ban hành bản án không có khả năng thi hành? - 3
Bản án của TAND TP Hà Nội bị cho là không có khả năng thi hành án.

Bản án của TAND TP Hà Nội bị cho là không có khả năng thi hành án.

Thứ hai, việc ký kết Hợp đồng bảo lãnh và Hợp đồng tín dụng là ngược quy trình. Ông Khánh, bà Thư cho rằng theo Điều 361, Bộ luật dân sự thì giữa bên có nghĩa vụ và bên có quyền phải phát sinh một nghĩa vụ sau đó nghĩa vụ này được bên thứ ba bảo đảm bằng một cam kết thì mới đúng quy trình. Nhưng trong trường hợp này, họ đã ký Hợp đồng bảo lãnh trước rồi Công ty Đại Dương mới ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng là vi phạm về trình tự ký kết gia dịch bảo đảm.

Thứ ba, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã không đánh giá chứng cứ do đương sự cung cấp theo quy định tại Điều 90, Điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự: Trong quá trình Tòa phúc thẩm TAND tối cao giải quyết vụ án, ông Khánh, bà Thư và  luật sư bảo vệ đã giao nộp chứng cứ là Công văn của văn phòng công chứng A1 và Công văn trả lời của Chi cục thuế Đông Anh cho Tòa án và đưa ra đề nghị Toà án tiến hành trưng cầu giám định về các chứng cứ họ giao nộp nhưng Tòa án không thực hiện.

Trong đơn kêu cứu ông Khánh, bà Thư cũng khẳng định Bản án số 156/2010/KDTM- ST và Bản án phúc thẩm số 161/2012/KDTM- PT không có khả năng thi hành.

Liên quan đến vấn đề này, PV Dân Trí đã có buổi trao đổi với Luật sư Trương Quốc Hòe - Trưởng Văn phòng luật sư Interla. Luật sư Trương Quốc Hòe nhận định:

Bản án số 156/2010/KDTM- ST của TAND TP Hà Nội và Bản án phúc thẩm số 161/2012/KDTM- PT của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội hoàn toàn không có khả năng thi hành, có thể nói đây chỉ là những “Bản án giấy” bởi:

 

TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TAND Tối cao ban hành bản án không có khả năng thi hành? - 5
Sửa đổi bổ sung Quyết định thi hành án nhưng với bản án đã tuyên, cơ quan thi hành án còn gặp nhiều khó khăn.

Sửa đổi bổ sung Quyết định thi hành án nhưng với bản án đã tuyên, cơ quan thi hành án còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ nhất, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 103070597-01, tại thửa đất số (75+76)-1, tờ bản đồ số 01, tổ 13, cụm 3, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, ông Khánh, bà Thư được quyền sử dụng 90m2 đất ở, hiện trạng trên đất là một căn nhà cấp 4 có diện tích 24m2.

Tuy nhiên, hiện trạng thửa đất này rộng hơn nhiều chứ không phải chỉ có 90m2 như ghi nhận trong GCN nói trên, và trên GCN này cũng không có chỉ giới thể hiện diện tích nhà - đất đã thế chấp thuộc phần nào trên toàn bộ thửa đất. Sau khi Toà án các cấp thụ lý cũng đã không xem xét thực trạng của thửa đất, không mời cơ quan chuyên môn là Phòng tài nguyên và môi trường tham gia vụ án để có được những tham vấn của họ về mốc giới phần diện tích nhà - đất đã thế chấp trên tổng diện tích nhà - đất hiện có.

Ông Khánh, bà Thư cũng không đồng ý thực hiện việc thỏa thuận với Cơ quan thi hành án để cho cơ quan này xác định vị trí mảnh đất có đủ điều kiện thi hành án. Rõ ràng người bảo lãnh chỉ phải chịu trách nhiệm về phần tài sản mà họ đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ. Điều này cũng có nghĩa là Cơ quan thi hành án chỉ được thi hành phần tài sản mà họ đã thế chấp. Do vậy, cơ quan Thi hành án không thể xác định được diện tích đất ông Khánh, bà Thư phải thi hành án có mốc giới như thế nào? ở đâu trong tổng diện tích nhà - đất của ông Khánh, bà Thư?

Đặc biệt, ngoài 90m2 đất ở được cấp GCN, trên mảnh đất còn có 107,5m2 đất vườn chưa chuyển đổi mục đích sử dụng nên cũng không đủ điều kiện để thế chấp ngân hàng theo Điểm a, Khoản 1, Điều 106 Luật đất đai năm 2003. Vì vậy, Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 16.01.09/02/TD – BĐ giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á và vợ chồng ông Khánh, bà Thư vô hiệu toàn phần vì vi phạm điều cấm của pháp luật.

Cũng tương tự như vậy, tài sản thế chấp thứ hai trong vụ án này là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 116 + 117d, tờ bản đồ số 22, tổ 21, cụm 3, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, thì trong GCNQSĐ số AD 632379 cơ quan Nhà nước đã không xác định 120m2 đất ở mà vợ chồng ông Khánh được quyền sử dụng nằm trong phần nào của toàn bộ thửa đất hơn 300m2 này. Phần tài sản trên đất hiện tại là căn nhà ba tầng có diện tích xây dựng là 180m2, lớn hơn nhiều so với diện tích 120m2 được ghi nhận trên Giấy chứng nhận. Diện tích đất cũng như mốc giới không trùng khớp với diện tích và mốc giới trên GCNQSDĐ, do đó không thể xác định được diện tích phải thi hành án thuộc phần nào của thửa đất trên. Việc Tòa án xác định Ngân hàng có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất của vợ chồng ông Khánh theo GCNQSDĐ số AD 632379 là không có căn cứ để thực hiện được.

“Có thể thấy, trong quá trình giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” Toà án các cấp đã ban hành những bản án vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng và nội dung, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông Khánh, bà Thư. Đây cũng là những bản án không có khả năng thi hành trong thực tế”, luật sư Hoè nhận định.

Dân trí sẽ tiếp tục thông tin sự việc đến bạn đọc.

Anh Thế