Thứ tư, 08/02/2017 - 05:55

Ba phút cùng luật sư:

Trong những trường hợp nào công dân Việt Nam bị cấm xuất cảnh?

Dân trí

Trong 1 vụ án dân sự, nguyên đơn yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với bị đơn khiến bị đơn rất hoang mang. Bạn đọc muốn hỏi là nguyên đơn có quyền này không?

Trong chương trình “Ba phút cùng luật sư” kỳ này của báo Dân trí, luật sư Nguyễn Đức Chánh, cộng tác viên Thư viện Pháp luật sẽ tư vấn cho bạn đọc rõ hơn các trường hợp công dân chưa được phép xuất cảnh và cơ quan nào có quyền ngăn chặn công dân xuất cảnh.

Khi nào công dân bị cấm xuất cảnh?

Một bạn đọc hỏi như sau: “Tôi là bị đơn trong vụ án dân sự đang chờ giải quyết. Vừa rồi phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh với tôi. Vậy cho tôi hỏi trường hợp nào thì công dân Việt Nam bị cấm xuất cảnh?”. Xin luật sư tư vấn cho bạn đọc này được rõ?

Theo Điều 21 Nghị định 136/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Theo luật sư Chánh, có rất nhiều trường hợp cơ quan chức năng có thể ra quyết định chưa cho phép công dân xuất cảnh
Theo luật sư Chánh, có rất nhiều trường hợp cơ quan chức năng có thể ra quyết định chưa cho phép công dân xuất cảnh

Vậy ai có thẩm quyền chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh thưa luật sư?

Về thẩm quyền quyết định chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh được quy định tại Điều 22 Nghị định 136/2007/NĐ-CP. Cụ thể là:

- Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan thi hành án các cấp quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm; Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự; Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

- Bộ trưởng Y tế quyết định chưa cho xuất cảnh vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

- Bộ trưởng Công an quyết định chưa cho xuất cảnh vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

- Thủ trưởng cơ quan quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Cơ quan nào quyết định chưa cho công dân xuất cảnh thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho công dân đó biết, trừ trường hợp vì lý do đảm bảo bí mật cho công tác điều tra tội phạm và lý do an ninh.

Vâng, xin cảm ơn luật sư Nguyễn Đức Chánh và Thư viện Pháp luật đã hỗ trợ thực hiện chương trình này!

Tùng Nguyên - Phạm Nguyễn - Thiên Thanh (thực hiện)