Thứ năm, 25/04/2019 - 10:40

Thủ tướng yêu cầu xem xét ý kiến chuyên gia về thuế nhập linh kiện ô tô

Dân trí

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa yêu cầu các Bộ chuyên ngành xem xét ý kiến của chuyên gia về thuế nhập khẩu linh kiện xe hơi đang thấp, khiến các doanh chỉ lo nhập khẩu linh kiện lắp ráp mà không chủ động nội địa hóa.

Cụ thể, chia sẻ trên báo chí mới đây, ông Nguyễn Minh Đồng, chuyên gia về ô tô, người có hơn 30 năm làm việc trong phòng nghiên cứu - phát triển tại các nhà máy ô tô của Đức cho rằng: "Thời gian qua, chúng ta tập trung bảo hộ sản xuất xe lắp ráp nhưng lại ưu đãi chưa đúng chỗ. Chẳng hạn, chúng ta duy trì đánh thuế rất cao với xe nhập khẩu nguyên chiếc giúp các doanh nghiệp lắp ráp trong nước không phải lo chuyện cạnh tranh từ xe nhập. Tuy nhiên, chúng ta lại duy trì thuế nhập linh kiện ở mức thấp hơn nhiều trong một thời gian dài. Điều này khiến các doanh nghiệp có xu hướng nhập linh kiện từ các quốc gia có ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển về lắp ráp nên sản xuất linh kiện trong nước không có cơ hội phát triển".

Thủ tướng yêu cầu xem xét ý kiến chuyên gia về thuế nhập linh kiện ô tô - 1

Chuyên gia cho rằng, việc bỏ, giảm thuế nhập linh kiện không giúp ích cho ngành sản xuất xe hơi Việt Nam

Dựa vào đánh giá của vị chuyên gia nói trên, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ Công Thương, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các hiệp hội có liên quan nghiên cứu, xem xét ý kiến của chuyên gia, báo cáo Thủ tướng.

Năm 2018, theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) giữa 10 nước thành viên, Việt Nam bắt đầu bỏ thuế hầu hết các linh kiện nhập khẩu có xuất xứ từ các nước nói trên với điều kiện được nội địa hóa tại chính nước đó.

Còn trong hầu hết các hiệp định thương mại tự do song và đa phương (FTAs thế hệ mới), Việt Nam đều không cam kết bỏ thuế nhập linh kiện ô tô.

Cụ thể, trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như ASEAN- Trung Quốc, ASEAN- Nhật bản...Việt Nam không cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với linh kiện, phụ tùng ô tô.

Trong sân chơi toàn cầu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mà Việt Nam là thành viên, mức cam kết giảm thuế cuối cùng đối với linh kiện, phụ tùng ô tô là từ 0% - 30% tuỳ theo linh kiện, tùy vào thời điểm.

Các Hiệp định FTA khác vẫn duy trì mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với một tỷ lệ số dòng linh kiện, phụ tùng nhất định tại thời điểm cuối cùng (tỷ lệ số dòng duy trì thuế suất chiếm từ 24% đến 77%, thời điểm cam kết cuối cùng là từ năm 2022 đến 2029 tùy Hiệp định).

Vào cuối năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2017 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016 về biểu thuế xuất, nhập khẩu hàng hóa, theo đó doanh nghiệp sẽ được hưởng thuế nhập linh kiện 0% từ bất kể các quốc gia nào nếu đáp ứng đủ điều kiện sản xuất sản lượng chung tối thiểu năm 2018, 16.000 xe/năm, 2019 là 17.000 xe/năm, 2020 là 20.000 xe/năm, 2022 là 27.000 xe/năm.

Trong đó từng mẫu xe cam kết là từ 6.000 chiếc/năm (2018); 7.000 chiếc/năm 2019 và 10.000 chiếc/năm 2022.

Thủ tướng yêu cầu xem xét ý kiến chuyên gia về thuế nhập linh kiện ô tô - 2

Nghị định 125/2017 của Chính phủ về miễn thuế nhập khẩu linh kiện xe hơi

Cũng năm 2017, Bộ Tài chính có soạn thảo Dự thảo Công văn về chính sách thuế nhập khẩu đối với linh kiện ô tô giai đoạn 2018 và 2020 nêu khá rõ ràng, chi tiết về tỷ lệ nội địa hóa, sản lượng chung tối thiểu, sản lượng riêng từng mẫu xe tối thiểu để được hưởng lợi thế nhập linh kiện xe hơi 0%. Tuy nhiên, dự thảo này đã không được thông qua.

Cụ thể, doanh nghiệp muốn được hưởng thuế nhập linh kiện 0% cho dòng xe dưới 9 chỗ ngồi, dung tích xylanh 2.000 CC (khoảng 2.0L) sẽ phải đáp ứng điều kiện tăng trưởng chung 16%/năm

Tổng sản phẩm chung tôi thiểu đổi với các loại xe có xylanh dưới 2.0lL là 34.000 chiếc/năm 2018; 40.000 chiếc/năm 2019; 46.000 chiếc/ năm 2020; 53.000 chiếc/năm 2021 và 2022 là 61.000 chiếc.

Trong đó, sản lượng riêng tối thiểu đối với từng mẫu xe để được hưởng thuế nhập linh kiện 0% là 20.000 chiếc/năm 2018 (tỷ lệ nội địa hóa 20%). 23.000 chiếc/năm, nội địa hóa 25% (2019); 27.000 chiếc/năm, tỷ lệ nội địa hóa 30% (2020); 31.000 chiếc/năm (tỷ lệ nội địa hóa 35% vào năm 2021) và 36.000 xe/năm, tỷ lệ nội địa hóa 40% vào năm 2022).

Dựa vào hai chỉ tiêu, yêu cầu của Nghị định 125/2017 mà Chính phủ ban hành và Dự thảo Công văn mà Bộ Tài chính xây dựng để thay thế, thấy rõ Nghị định của Chính phủ cởi mở hơn, dễ dàng hơn cho doanh nghiệp hưởng thuế nhập 0%. Tuy nhiên, lại không có ràng buộc cam kết, trách nhiệm để doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Đồng thời, số lượng xe tối thiểu chung và mẫu xe riêng tại Nghị định 125 của Chính phủ ít hơn so với Dự thảo của Bộ Tài chính, điều này cũng khiến doanh nghiệp khó nâng cao sản lượng lắp ráp các mẫu xe tại Việt Nam.

Nguyễn Tuyền