Thứ bảy, 05/09/2020 - 19:13

Khi nào bệnh nhân ung thư vú được chỉ định điều trị nội tiết?

Dân trí

Mục đích của biện pháp điều trị nội tiết là ngăn chặn estrogen gắn vào các thụ thể trên tế bào ung thư hoặc giảm sản xuất estrogen của cơ thể.

Liệu pháp điều trị nội tiết cho bệnh nhân ung thư vú được chỉ định trên những bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết (ER/PR) dương tính. Khoảng 60-70% bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính. Xét nghiệm này được xác định bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trên bệnh phẩm khối u vú, hoặc tổ chức hạch, mô di căn của ung thư vú. 

Khi nào bệnh nhân ung thư vú được chỉ định điều trị nội tiết? - 1
Ung thư vú có thể chữa khỏi 100% nếu được phát hiện ở giai đoạn tiền lâm sàng.

Theo bác sĩ Bệnh viện K Trung ương (Hà Nội) lựa chọn phương pháp điều trị nội tiết nào phụ thuộc vào tình trạng kinh nguyệt (chưa mãn kinh hay đã mãn kinh), giai đoạn bệnh, các bệnh lý kèm theo như tim mạch hay loãng xương, và các tác dụng phụ mà bệnh nhân gặp phải trong quá trình điều trị.

Điều trị nội tiết thường được chỉ định sau phẫu thuật với ung thư vú chưa di căn để giảm khả năng tái phát (điều trị bổ trợ, điều trị hỗ trợ), hoặc để kiểm soát các tổn thương tái phát, di căn trên những bệnh nhân ung thư vú tái phát, di căn.

Thời gian điều trị nội tiết bổ trợ thường 5 năm, có thể kéo dài tới 10 năm. Với giai đoạn tái phát, di căn, liệu pháp nội tiết được điều trị đến khi bệnh tiến triển hoặc có độc tính nặng phải dừng điều trị nội tiết. Việc bệnh nhân kháng với một phương pháp điều trị nội tiết, có thể tiếp tục phương pháp điều trị nội tiết khác theo chỉ định của bác sĩ ung thư.

Các thuốc nội tiết được chỉ định trong điều trị bổ trợ ung thư vú gồm thuốc thuốc nội tiết bậc 1 tamoxifen (các thuốc bậc một khác như raloxifene, toremifene ít được sử dụng) hoặc các thuốc kháng aromatase, thường được gọi là thuốc nội tiết bậc 2 (anastrozole, letrozole, exemestane).

Với giai đoạn di căn, ngoài hai loại thuốc trên còn các thuốc khác sử dụng đơn chất hoặc kết hợp với thuốc nội tiết khác để tăng hiệu quả điều trị. Các thuốc đó bao gồm fulvestrant (Faslodex), abemaciclib (Verzenio), palbociclib (Ibrance), ribociclib (Kisqali), everolimus (Afinitor). Tuy nhiên một số thuốc trên còn chưa có ở Việt Nam, giá thành cao, nên ít bệnh nhân có thể tiếp cận điều trị.

Với các bệnh nhân ung thư vú chưa mãn kinh, chỉ định điều trị thường điều trị tamoxifen (bậc 1) có hoặc không kết hợp với ức chế buồng trứng. Nếu bệnh nhân ung thư vú chưa mãn kinh có chỉ định điều trị kết hợp các thuốc nội tiết bậc 2 (anastrozole, letrozole, exemestane), thì cần được cắt buồng trứng hoặc tiêm thuốc bất hoạt buồng trứng để bệnh nhân trở nên mãn kinh trước khi điều trị các thuốc trên.

Với bệnh nhân ung thư vú đã mãn kinh, tùy theo bệnh nhân bác sĩ có thể lựa chọn điều trị nội tiết bậc 1 hay bậc 2. Với bệnh nhân đã mãn kinh, điều trị nội tiết bậc 2 cho hiệu quả giảm tỷ lệ tái phát hơn so với nội tiết bậc 1. Tuy nhiên tùy theo khả năng dung nạp và các bệnh lý kèm theo, bác sĩ sẽ chỉ định phác đồ hợp lý cho bệnh nhân.

Hà An