Thứ ba, 30/04/2019 - 13:19

Thanh Hóa:

Hơn 20 năm lặn lội chiến trường xưa và nỗi niềm tìm người yêu của đồng đội

Dân trí

Hai mươi năm qua, người cựu binh Phạm Văn Mão đã không quản khó khăn, gian khổ trèo đèo lội, suối về chiến trường xưa để tìm lại những kỷ vật của đồng đội. Mỗi kỷ vật đều mang một câu chuyện cảm động về hành trình “vào sinh ra tử” của ông và đồng đội.

Gom nhặt từ những ngày còn chiến đấu

Chúng tôi đến thăm gia đình ông Phạm Văn Mão (74 tuổi, thôn Minh Lai, xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa) vào những ngày cuối tháng  4 lịch sử. Trong căn nhà nhỏ, ông Mão gìn giữ gần 200 kỷ vật của đồng đội như báu vật cuộc đời mình.

Kể về “tài sản” vô giá ấy, ông xúc động: “Hơn 40 năm đã qua, người còn, người mất, người vẫn còn nằm lại nơi chiến trường, nhưng những kỷ niệm về những ngày chiến đấu ác liệt cùng nhau vẫn còn in đậm mãi trong ký ức, không thể nào quên.

Hơn 20 năm lặn lội chiến trường xưa và nỗi niềm tìm người yêu của đồng đội  - 1

Mảnh dù của quân Mỹ được thanh niên xung phong dùng báo hiệu nơi có hầm trú ẩn cho bộ đội

Trong những ngày cùng đồng đội chiến đấu ở các chiến trường, từ năm 1969, chứng  kiến đồng đội hy sinh, tôi nảy ra ý nghĩ muốn lưu giữ lại những kỷ vật gắn với những kỷ niệm trên chặng đường chiến đấu cùng đồng đội để làm kỷ niệm. Và rồi, trong suốt thời gian chiến đấu ở chiến trường, những kỷ vật nào nhỏ gọn thì tôi cầm theo, còn những kỷ vật, vật dụng không tiện mang theo dễ hư hỏng, mất mát thì tôi chôn dưới đất, đánh dấu các ký hiệu để sau này đi tìm lại”.

Cựu binh Phạm Văn Mão nhập ngũ vào năm 1968, sau khi được huấn luyện 1 tháng, ông được phân công công làm y tá, sau đó vào đội trinh sát thông tin vô tuyến ở Tiểu đoàn 71, Binh trạm 33, Đoàn 559, Bộ đội Trường Sơn.  Ông tham gia các chiến dịch đường 9 Nam Lào, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử…

Năm 1975, ông Mão trở về quê hương đảm nhiệm nhiều cương vị như Bí thư Đảng ủy, Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc… Đến năm 1999, do sức khỏe yếu, ông Mão xin nghỉ công tác về phụ giúp gia đình.

Hai mươi năm qua, ông Mão vượt rừng, lội suối tới những nơi cùng đồng đội từng chiến đấu, tìm đến những ký hiệu năm xưa để tìm lại kỷ vật. Có những kỷ vật được tìm thấy, có những kỷ vật không tìm thấy do sự thay đổi của địa hình. Đến nay, ông đã tìm được 167 kỷ vật.

Hơn 20 năm lặn lội chiến trường xưa và nỗi niềm tìm người yêu của đồng đội  - 2

Những dòng lưu bút của đồng đội trong cuốn sổ tay đã cũ vẫn được ông Mão cất giữ cẩn thận

Các kỷ vật có nhiều loại khác nhau như: dao, hộp đựng cơm, mảnh dù, võng, thư viết tay, dây thắt lưng, bình đựng nước... Với ông việc lưu giữ những kỷ vật này như một sự tưởng nhớ, tri ân đồng đội. Vì vậy, tất cả đều được ông nâng niu, gìn giữ như báu vật của cuộc đời mình.

Mỗi kỷ vật là một câu chuyện cảm động

Mỗi kỷ vật của ông Mão mang về đều gắn với một câu chuyện cảm động về đồng đội trong những chặng đường hành quân, chiến đấu nơi chiến trường ác liệt. Ông Mão lặn lội đi tìm lại và lưu giữ những kỷ vật thời chiến với mong muốn lớn nhất là lưu giữ kỷ niệm một thởi lửa đạn và tri ân đối với những người đồng đội đã ngã xuống vì độc lập tự do cho dân tộc.

Hơn 20 năm lặn lội chiến trường xưa và nỗi niềm tìm người yêu của đồng đội  - 3

Hộp đựng cơm gắn với kỷ niệm của ông cùng đồng đội những ngày sống và chiến đấu ở chiến trường

Ông kể, biết đến tâm nguyện của ông  muốn có một nơi để trưng bày kỷ vật của đồng đội, có đơn vị đã hỗ trợ giúp ông một số thiết bị để trang trí, trưng bày hơn 100 kỷ vật của đồng đội tại gian nhà nhỏ của gia đình. Tuy nhiên, do nhà xuống cấp cần sửa sang lại nên hiện giờ những kỷ vật lại được cất vào hai chiếc ba lô đã từng theo ông suốt những năm chiến trường. Một trong những kỷ vật được ông trân trọng và gìn giữ như báu vật đó là chiếc lược được làm từ vỏ máy bay đã cũ. Mỗi lần nhìn chiếc lược, ông lại nhớ người đồng đội với lời gửi gắm trước lúc hy sinh.

Cầm trên tay chiếc lược được làm từ xác máy bay, ông Mão rưng rưng nước mắt: “Chiếc lược ấy là kỷ vật của đồng chí Lê Văn Nhượng, quê ở tỉnh Hà Bắc lúc bấy giờ. Anh ấy người lính trẻ đã bỏ bao công sức ngày đêm để tự tay làm chiếc lược. Nhượng đã luôn đem theo chiếc lược bên mình, gìn giữ cẩn thận. Trong một lần chúng tôi đi trinh sát thì bị địch tập kích, Nhượng bị thương nặng. Trước lúc hy sinh, Nhượng đã lôi trong túi áo ra chiếc lược đặt vào tay tôi rồi dặn dò: Anh cố gắng mang về trao cho người yêu em với. Vậy mà cho đến giờ tôi vẫn chưa thực hiện được ước nguyện của cậu ấy”.  

Lời nhắn nhủ của đồng đội luôn theo ông suốt những tháng ngày lăn lộn nơi chiến trường. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại ông Mão về quê của đồng đội tìm lại người con gái ấy, song cô gái đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Qua nhiều kênh thông tin, ông nhắn nhủ, mong muốn tìm gặp người con gái ấy nhưng đến nay ông vẫn chưa có tung tích gì. Chiếc lược hiện vẫn được ông giữ lại với nỗi niềm day dứt chưa thực hiện được lời hứa với đồng đội.

Hơn 20 năm lặn lội chiến trường xưa và nỗi niềm tìm người yêu của đồng đội  - 4

Cựu binh Phạm Văn Mão mong muốn có một nơi lưu giữ những kỷ vật của đồng đội ông.

Cầm chiếc bình tông (một loại bình đựng nước), ông kể: “Lúc ấy, trong một chuyến trinh sát, tôi có nhiệm vụ đi tìm nước uống cho mình và đồng đội bị thương. Tìm đến một con suối gần hành trình trinh sát thì suối cạn khô. Lúc này phát hiện một tên lính ngụy bị thương nặng khó có thể qua khỏi nằm cạnh suối. Gặp tôi, tên lính ngụy giơ tay xin hàng, tôi đã cõng tên lính ngụy vào một khu vực hầm trú gần đó, băng bó vết thương. Tên lính ngụy nói rằng, với vết thương này, anh ta không thể sống được nên đưa chiếc bình tông còn hơn nửa bình nước cho tôi. Và bình nước này đã giúp những đồng đội bị thương sống sót qua cơn khát”.

Hay chiếc võng màu xám là câu chuyện cảm động của ông và đồng đội đã đỡ đẻ cho một nữ đồng chí chưa kịp biết tên, địa chỉ; con dao mổ vết thương cứu sống nhiều đồng đội…

Dù đã tìm được nhiều kỷ vật của đồng đội sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng nhưng đến nay ông Mão vẫn còn khoảng 30 kỷ vật đã cất giấu trước đó, chưa tìm lại được. Và cũng có những đồng đội vẫn còn nằm lại nơi chiến trường. Điều kiện kinh tế khó khăn, sức khỏe mỗi năm một yếu, ông Mão vẫn đau đáu nỗi niềm chưa thể đi tìm hết các kỷ vật khi xưa.

Để thực hiện được những chuyến đi trở lại chiến trường xưa tìm kỷ vật, ông Mão đã tự đi làm thuê kiếm tiền để trang trải cho chuyến đi. Điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, có những lần, gia đình ông Mão phải bán cả con lợn nái để ông có tiền chi phí đi đường.

“Mỗi kỷ vật đều mang ý nghĩa quan trọng, thiêng liêng vì đều gắn với những kỷ niệm về đồng đội, kỷ niệm về một thời chiến tranh ác liệt nhưng hào hùng của dân tộc. Tôi đã khoác ba lô đi khắp các chiến trường xưa để tìm lại kỷ vật như: Chiến trường Lào, Lao Bảo, Quảng Nam, Kon Tum… Dù điều kiện kinh tế khó khăn, đi lại xa cũng vất vả nhưng gia đình luôn ủng hộ tôi thực hiện ước nguyện của mình” – người lính già tâm sự.

Ngoài tìm kiếm kỷ vật của đồng đội, ông Mão còn tham gia tìm kiếm mộ đồng đội ở các chiến trường xưa. Ông Mão cùng với đoàn tìm kiếm thân nhân liệt sỹ đã 3 lần lặn lội vào chiến trường tìm mộ đồng đội.

Hiện nay, trong cơ thể ông Mão vẫn đang còn mảnh đạn cứ hành hạ ông mỗi khi thời tiết thay đổi. Thế nhưng, người lính già ấy chưa bao giờ sờn lòng. Ước nguyện lớn nhất của ông Mão hiện nay là được tìm thấy hết những kỷ vật còn lại; những đồng đội còn nằm lại chiến trường được tìm thấy và đưa về quê hương.

Ông cũng mong muốn có một nơi lưu giữ gần 200 kỷ vật của ông để tri ân những đồng đội của ông đã ngã xuống. Cùng với những câu chuyện cảm động về tình đồng chí, đồng đội, những kỷ vật đó sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc, hiểu hơn sự hy sinh của những người lính để cho hôm nay đất nước được hòa bình, độc lập, tự do.

Bình Minh