Thứ năm, 26/02/2015 - 07:59

Trưng cầu ý dân - kết quả có giá trị như phán quyết sau cùng?

Dân trí

Lần đầu được đặt lên bàn nghị sự tại UB Thường vụ Quốc hội chiều 25/2, dự luật Trưng cầu ý dân đã gây tranh luận nóng bỏng về giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu, cơ quan có quyền xác nhận, công bố, thực hiện kết quả cuộc trưng cầu ý dân…

Thuyết minh về dự luật, đại diện cơ quan soạn thảo – Hội luật Gia Việt Nam – Chủ tịch Hội Nguyễn Văn Quyền cho biết, Luật Trưng cầu ý dân nhằm phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp, việc xây dựng Luật trưng cầu ý dân được xác định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Hiến pháp 1946 và các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 đều có quy định về trưng cầu ý dân. Hiến pháp 2013 quy định xác định rõ: “Nhân dân có quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”.

Đến nay đã có 167/214 (khoảng 78%) quốc gia và vùng lãnh thổ có luật hoặc các quy định pháp lý về trưng cầu ý dân.

Tuy nhiên, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam cũng cho rằng trên thực tiễn kết quả của các hoạt động lấy ý kiến nhân dân, để nhân dân quyết định trực tiếp đối với những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh cũng còn rất nhiều hạn chế.

Xác nhận vấn đề này, Chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội (cơ quan thẩm tra dự án luật) Phan Trung Lý khẳng định, trưng cầu ý dân tuy đã được ghi nhận trong Hiến pháp từ năm 1946 nhưng ở nước ta, hình thức này chưa được thực hiện trên thực tế.
 
Trưng cầu ý dân - kết quả có giá trị như phán quyết sau cùng?
Phiên họp thứ 35 của UB Thường vụ Quốc hội là dịp dự luật Trưng cầu ý dân được trình xin ý kiến lần đầu.

Về nội dung cụ thể, cơ quan soạn thảo dự luật trình 2 phương án về chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân. Theo đó, Phương án 1 gồm UB Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị trưng cầu ý dân; Phương án 2 mở rộng thêm một số chủ thể khác cũng có quyền đề nghị trưng cầu ý dân.

Thường trực UB pháp luật đề nghị quy định chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân như phương án 1.

Về kết quả trưng cầu ý dân, cũng có 2 phương án được đưa ra. Phương án 1: Cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được quá nửa tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu. Phương án trưng cầu ý dân được quá nửa số phiếu hợp lệ tán thành được công bố để thi hành. Phương án 2: Ngoài các điều kiện như phương án 1, phương án này bổ sung quy định đối với trưng cầu ý dân về Hiến pháp thì cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được quá hai phần ba tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu và phương án được quá hai phần ba số phiếu hợp lệ tán thành được công bố để thi hành. 

Cơ quan thẩm tra cho rằng, quy định tỷ lệ tham gia và tán thành của cử tri quá cao (quá 2/3) đối với một vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân thì sẽ khó khả thi, thậm chí nếu tổ chức không tốt sẽ dẫn đến tình trạng phải thúc ép cử tri đi bỏ phiếu trưng cầu hoặc cử tri đi bầu hộ, bầu thay và như vậy, sẽ mất đi ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân bởi một hình thức dân chủ trực tiếp sẽ trở nên hình thức... Do đó, UB Pháp luật tán thành với việc quy định tỷ lệ “quá bán kép” để bảo đảm kết quả cuộc trưng cầu ý dân là hợp lệ như phương án 1.

Không đồng ý với quy định tại dự thảo luật, Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng cần chỉnh quy định để Quốc hội nắm quyền quyết định, sau khi có kết quả trưng cầu ý dân, UB Thường vụ Quốc hội phải báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp ngay sau đó để Quốc hội xem xét thảo luận và ra Nghị quyết công nhận kết quả trưng cầu ý dân.

Chủ nhiệm UB Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cũng đồng tình với quan điểm này. Ông Hiển cho rằng, Quốc hội phải giữ được “chốt” sau cùng, nếu kết quả trưng cầu ý dân không hợp lý, Quốc hội có quyền bác bỏ thực hiện.

Ngược lại, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu lại phân tích, giá trị pháp lý của việc lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu ý dân là khác nhau.

Trưng cầu ý dân là quyền dân chủ trực tiếp, chủ quyền của nhân dân, khi nhân dân đã biểu quyết đa số rồi thì đó là quyết định không có cơ quan nào có quyền phủ quyết, còn giám sát để xem cuộc trưng cầu ý dân đó có hợp Hiến hợp pháp hay không là việc khác.

Khi cuộc trưng cầu đó tiến hành đúng pháp luật, đã hợp pháp hợp hiến rồi thì người dân là người quyết định cuối cùng, không có cơ quan nào có quyền thay đổi quyết định đó, ông Lưu nhấn mạnh.

“Điều 120 của Hiến pháp 2013 nói là Hiến pháp được 2/3 đại biểu Quốc hội thông qua thì có hiệu lực, nhưng trong trường hợp phải trưng cầu ý dân thì do Quốc hội quyết định việc có đưa Hiến pháp đó ra trưng cầu ý dân hay không, và khi đã đưa ra Quốc hội trưng cầu ý dân thì dân biểu quyết đa số coi như đó là quyết định chứ không phải đưa trở lại Quốc hội nữa, các nước trưng cầu ý dân đều làm như thế” - ông Lưu lập luận.

Tranh luận về điểm này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, muốn thực hiện như vậy thì phải sửa Hiến pháp. Hiến pháp được thông qua do 2/3 đại biểu Quốc hội quyết định, còn trưng cầu ý dân hay không là do Quốc hội quyết định, có thể có hoặc không trưng cầu. Hiến pháp hiện tại không giống bản Hiến pháp 1946 (quy định quyền phúc quyết của người dân), việc trưng cầu ý dân là để làm căn cứ cho Quốc hội quyết định chứ không phải đưa ra toàn dân để phúc quyết.

“Tất nhiên trưng cầu ý dân mà đa số người dân không thuận thì thực tế, Quốc hội cũng không dám đi ngược lại ý kiến của nhân dân, không thể quyết khác được.  Tuy nhiên, trong quy định thì vẫn phải rõ ràng là việc lấy ý kiến người dân vẫn phải do Quốc hội quyết định” - Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

“Theo cách hiểu của tôi và theo tinh thần của điều 120 của Hiến pháp, trong điều kiện của Việt Nam thì về nguyên tắc 2/3 đại biểu biểu quyết thì Hiến pháp có hiệu lực. Việc có trưng cầu ý dân hay không là do Quốc hội quyết định, còn đã đưa ra dân thì dân là người cao nhất để quyết định giá trị pháp lý của bản Hiến pháp. Ý của Chủ tịch Quốc hội, các cơ quan liên quan sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, còn quan điểm của tôi là như tôi đã nói”, ông Lưu quả quyết.

“Phê” dự thảo luật còn nhiều quy định mơ hồ, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lưu ý, sau phiên họp này, ban soạn thảo cần tiếp thu, chỉnh lý dự án luật trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục xem xét. Và lúc đó UB Thường vụ Quốc hội mới quyết định có trình ra Quốc hội hay không.

P.Thảo